Thành viên trực tuyến

3 khách và 0 thành viên

MENU NHANH

Tài nguyên dạy học

LIÊN KẾT THƯ VIỆN

LIÊN KẾT BLOG

PHẦN MỀM VIOLET

HOA LAN

TRUYỆN CƯỜI

CALENDAR

TÌM HIỂU ONLINE

THÔNG TIN CÁ NHÂN


Tôi : Nguyễn Thành Tình
Sinh nhật : 11/11
Quê quán: Huế
Nơi sinh:Phú Hòa- Phú yên
Nơi ở: Ayunpa-Gia lai
Chuyên môn: HÓA -SINH
Ngày vào Ngành: 01/10/ 2005
Sở thích: Thích du lịch !
Liên hệ giao lưu:
Email: tinh070282@gmai.com
Điện thoại: ...........

DÀNH CHO VIP

10 ĐIỀU TÂM NIỆM

1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh tật, vì không bệnh tật thì dục vọng dễ sanh.

2. Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn thì kiêu sa nổi dậy.

3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc sở học không thấu kiệt.

4. Sự nghiệp đừng cầu không bị trở ngại, vì không trở ngại thì chí nguyện không kiên cường.

5. Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thị thường kiêu ngạo.

6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7. Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất tự kiêu.

8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà có ý có mưu đồ.

9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì hắc ám tâm trí.

10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát mà oán thù càng tăng thêm.

Bởi vậy, Phật đã thiết lập chánh pháp lấy bệnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai góc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ chống nghịch làm người giao du, coi thi ân như đôi dép, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thân. Do đó, ở trong trở ngại mà vượt qua tất cả, ngược lại cầu dễ dàng thì bị khúc mắc. Đức Thế Tôn được giác ngộ ngay trong mọi sự trở ngại. Ương quật hành hung. Ngày nay, những người học Đạo, trước hết không dấn mình vào sự trở ngại nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất cả, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào ?
Trích: Luận Bảo Vương Tam Muội

CỔ NHÂN DẠY

Nhịn được cái tức một lức, tránh được mối lo trăm ngày...

Muốn hòa thuận trên dưới , nhẫn nhịn đứng hàng đầu .

Cái gốc trăm nết , nết nhẫn nhịn là cao .

Cha con nhẫn nhịn nhau ,vẹn toàn đạo lý .

Vợ chồng nhẫn nhịn nhau , con cái khỏi bơ vơ .

Anh em nhẫn nhịn nhau , trong nhà thường êm ấm .

Bạn bè nhẫn nhịn nhau ,tình nghĩa chẳng phai mờ .

Tự mình nhẫn nhịn được ai ai cũng mến yêu .

Người mà chưa biết nhẫn , chưa phải là người hay .


10 LOÀI CHIM ĐẸP NHẤT HÀNH TINH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • BLOG HÓA -SINH : NGUYỄN THÀNH TÌNH-THCS NGUYỄN KHUYẾN –IAPA-GIALAI

    Gốc > TÁC DỤNG CỦA CÂY CỎ QUANH TA >

    tác dụng của một số loài cây dại

     

     

     

    Quả me rừng có thể dùng làm ô mai chữa ho, viêm họng.

    Thuốc từ các loại quả dại

    Một phần không nhỏ các loại quả hoang dại đã góp phần đáng kể vào việc phòng chống bệnh tật, chẳng hạn quả dành dành núi, quả bần, quả vả, quả me rừng... Trong đó, nhiều loại đã trở thành hàng xuất khẩu, những dược liệu quý cho hoạt chất tác dụng cao.

     

    Quả dành dành núi

    Thuộc họ cà phê, có tên khác là thủy hoàng chi, thường gặp ở miền núi chỗ ẩm mát và có bóng râm như ven suối, bờ hồ lớn. Quả được thu hái vào tháng 7-9, lúc chín già, ngắt bỏ cuống, phơi hay sấy nhẹ đến khô. Có tài liệu còn nêu quả phải nhúng nước sôi hoặc đem đồ rồi mới phơi, sấy khô. Dược liệu này có tên thuốc là sơn chi tử, khi dùng để sống, sao vàng hoặc sao đen.

    Chữa hoàng đản, viêm gan virus, viêm niêm mạc miệng: Sơn chi tử 12 g, nhân trần 16 g, đại hoàng 8 g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.

    Chữa tinh hoàn sưng đau: Sơn chi tử (sao đen), tiểu hồi (sao với muối), hạt vải, hạt quýt (sao với giấm) mỗi thứ 30 g; ích trí nhân 20 g; hạt cau rừng 15 g; thanh bì 18 g (sao dầu vừng). Tất cả tán nhỏ, rây bột, mỗi lần uống 6 g với rượu vào lúc đói.

    Chữa nôn mửa: Sơn chi tử (sao vàng), trần bì, tinh tre mỗi thứ 10 g; gừng sống 5 g. Sắc uống lúc nóng làm một lần. Dùng ngoài, sơn chi tử và bạch tật lê (lượng bằng nhau), tán nhỏ, hòa với giấm, bôi vào ban đêm, sáng rửa mặt, hôm sau lại bôi tiếp, làm vài ngày. Chữa vết sẹo trên mặt.

    Quả bần 

    Thuộc họ bần, thường gặp ở vùng đầm lầy ven biển. Quả bần xanh có vị chua là nguyên liệu để chế giấm. Quả chín ngọt và ngậy như pho mát dùng ăn sống hoặc nấu chín. Về mặt thuốc, quả bần có những tác dụng sau:

    Giải nhiệt chữa cảm sốt: Quả bần rửa sạch, nhai với muối, rồi nuốt nước.

    Cầm máu, nhất là chảy máu cam: Quả bần rửa sạch, giã nát, đắp vào vết thương, máu sẽ cầm ngay. Tác dụng này chính là do chất pectin chứa trong dịch quả.

    Tiêu viêm chữa tụ máu, sưng tấy: Quả bần giã nhỏ, ép lấy dịch, cô thành cao mềm. Lúc cao còn nóng, phết lên giấy, khi dùng, hơ thuốc cho mềm rồi đắp vào chỗ đau. Ngày làm một lần.

    Quả kim anh

    Thuộc họ hoa hồng, là một dược liệu đặc sản của Cao Bằng và Lạng Sơn. Quả thu hái lúc sắp chín (tháng 9-11) cho vào túi vải, xóc mạnh và chà xát cho rụng hết lông gai, rồi bổ đôi, nạo sạch hạt và lông mềm ở trong quả, phơi hoặc sấy khô. Dược liệu rất cứng, màu đỏ nâu bóng, được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là thích lê tử, đường quán tử. Đây là vị thuốc bổ thận chữa di mộng tinh, suy nhược thần kinh, đái són. Ngày dùng 6-12 g dưới dạng thuốc cao hoặc thuốc bột. Cao kim anh phối hợp với mật ong với tỷ lệ 10% cao và 90% mật, dùng rất tốt, nhất là người cao tuổi. Có thể dùng bài thuốc có kim anh 500 g, ba kích 250 g, tua sen 50 g. Kim anh và ba kích thái mỏng, sao vàng, tán nhỏ, cho vào túi vải cùng với tua sen rồi nấu với 3 lít nước trong 8 giờ. Khi còn chừng 1 lít, đem lọc kỹ, cho đường (1 kg) vào, cô đặc còn 1 lít là được. Để nguội, thêm vài giọt tinh dầu cam cho thơm. Ngày uống hai lần, mỗi lần một thìa canh.

    Chú ý: Hạt kim anh có chất độc. Không được để sót hạt khi chế biến.

    Quả v

    Thuộc họ dâu tằm, thường thấy ở dưới tán rừng bên bờ các khe suối. Quả chứa chất keo thơm, vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ, mạnh dạ dày, chống viêm, giải độc, tiêu đờm, lợi sữa, được dùng trong những trường hợp sau:

    Chữa suy nhược, kém ăn, gầy yếu: Quả vả vừa chín tới, phơi hoặc sấy khô 500 g, cắt nhỏ, ngâm với một lít rượu trắng trong 10-20 ngày. Ngày uống 3 lần, mỗi lần một chén nhỏ.

    Chữa họng sưng đau: Quả vả non 100 g, lá chó đẻ 50 g, búp tre 30 g. Tất cả còn tươi, rửa sạch, giã nát với 1 g băng phiến, sao nóng, đắp vào chỗ đau, băng lại. Ngày làm hai lần.

    Chữa cảm, ngộ độc: Quả vả 200 g, quả sung 200 g, lá móc mèo 20 g, rễ canh châu 50 g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tẩm rượu, sao vàng, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống làm hai lần trong ngày.

    Thuốc tăng tiết sữa: Quả vả khô đem sấy giòn, tán bột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 12 g với nước đun sôi để nguội vào lúc đói. Dùng 3-5 ngày.

    Quả me rừng

    Thuộc họ thầu dầu, tên khác là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, mác kham (Tày), diều cam (Dao), xì xa liên (K’Ho), mọc hoang trên đồi trọc, rừng thưa miền núi.

    Thịt quả me rừng ăn giòn, lúc đầu có vị chua chát, sau ngọt dần, nếu nhấp ít nước vị càng ngọt hơn, có tác dụng làm dịu nhanh cơn khát khi đi rừng. Quả me rừng tươi có hàm lượng vitamin C rất cao (600-1.000 mg%). Chỉ cần ăn mỗi ngày 1-2 quả cũng đủ cung cấp lượng vitamin C cần thiết, chống bệnh chảy máu chân răng. Quả me rừng ướp muối, rồi phơi khô làm ô mai ngậm chữa ho, viêm họng, nôn mửa. Quả phơi khô (10-20 g) giã nhỏ, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, uống có tác dụng giải cảm, tiêu viêm, sinh tân dịch. Dùng ngoài, quả me rừng tươi giã nát, lấy nước bôi chữa nước ăn chân.

     

     

     

     

    Cà chua, rau cần có tác dụng phòng trị tăng huyết áp.

    Ăn uống phòng trị tăng huyết áp

    Người ta từng nói “bệnh vào từ cửa miệng”, dự phòng bệnh tăng huyết áp cũng nên bắt tay từ việc cải tiến kết cấu ăn uống, tăng cường điều dưỡng bằng ăn uống, thường thu được hiệu quả phòng trị rất tốt

     

    * Lá ngải cứu rửa sạch, băm nhuyễn vắt lấy nước, uống bằng một chung rượu trước bữa ăn, có hiệu quả đối với bệnh tăng huyết áp.

    * Củ hành tím 10 g, rửa sạch, sắc uống, có tác dụng hạ huyết áp.

    * Thường xuyên uống nước nấu cà tím (cà dái dê), hay ăn nhiều cà tím, hạ huyết áp đạt hiệu quả.

    * Râu bắp (ngô) 100g, sắc 3 chén nước, chia 3 lần uống trong ngày.

    * Cà chua rửa sạch, ăn sống, mỗi lần 1-2 quả.

    * Rau cần (cả rễ) vừa đủ, rửa sạch, băm nhuyễn vắt lấy nước, mỗi lần uống 4 muỗng canh, ngày 3-4 lần. Dùng cho tăng huyết áp thể nhẹ.

    * Hằng ngày dùng cúc hoa tươi 20 g hãm với nước sôi dùng uống thay trà, ngày 2-3 lần.

    * Hạt dưa (hấu) 15 g, ăn sống, có tác dụng hạ huyết áp.

    * Rau cần tươi vắt lấy nước, thêm mật ong với lượng bằng nhau trộn đều (nước rau cần phải dùng tươi mỗi ngày, không được đun nấu), mỗi lần 40 ml, ngày 3 lần, có hiệu quả tốt cho cả bệnh tăng huyết áp lẫn tăng cholesterol.

    * Lá hướng dương tươi 120 g, rửa sạch, sắc uống, chia 3 lần uống trong ngày.

    * Đậu xanh 100 g, tỏi 50 tép (người dưới 50 tuổi tính theo mỗi một tuổi thì dùng 1 tép tỏi), đường phèn vừa đủ. Đậu xanh rửa sạch, tỏi bỏ vỏ, hai thứ cùng cho vào một cốc to, thêm 500 ml nước, đường phèn vừa đủ, đậy nắp, cho vào nồi tiềm chín, uống canh (ăn đậu xanh). Uống vài lần trong ngày, liệu trình không giới hạn.

    * Củ năng 750g, củ cải 750 g, mật ong 50 ml. Củ năng và củ cải rửa sạch, băm nhuyễn, bỏ trong túi vải sạch vắt lấy nước, bỏ bã, thêm mật ong, chia uống 2-3 lần trong ngày.

    * Râu bắp (ngô) 100 g, vỏ dưa hấu tươi 400 g, chuối lột vỏ 3 trái, thêm 8 chén nước sạch, sắc còn 2 chén, sau khi loại bỏ râu bắp và vỏ dưa hấu, nêm đường phèn, uống liền 2-3 lần, huyết áp có thể trở lại bình thường. Đây là bài thuốc dân gian tuyệt vời của Malaysia, vật liệu đơn giản, đạt nhiều hiệu quả.

    * Củ cải tươi vắt lấy nước uống, mỗi lần 1 cốc, ngày 2 lần.

    * Dây dưa leo (dưa chuột) 120g, sắc uống.

    * Đậu xanh 500g, mè đen 500g, cùng rang chín tán bột, mỗi lần uống 50g, ngày 2 lần.

    * Chanh 1 quả, củ năng 10 quả, sắc uống, thường uống đạt hiệu quả. Đối với người bệnh nhồi máu cơ tim cũng có sự cải thiện các triệu chứng.

    * Vỏ đậu phộng sống, rửa sạch, hãm uống thay trà.

    * Hoa tường vi tươi 30g, hãm uống thay trà.

     

     

     

     

    Thuốc quý từ nhà bếp

    Ít ai có thể biết đến những gia vị rất gần gũi luôn có mặt trong bếp của mọi nhà. Vậy mà chúng là những bài thuốc quý báu giúp ích cho sức khỏe của chúng ta.

     

    Húng chanh (còn gọi là tần dày lá)

    Là một dược liệu chữa ho và cảm cúm. Để chữa cảm cúm, cảm số, nóng rét, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm: húng chanh 15 – 20g giã vắt lấy nước cốt uống, hoặc thêm gừng, hành, mỗi vị 12g cùng sắc uống và xông cho ra mồ hôi. Chữa ho, viêm họng: hái vài lá nhai, ngậm, nuốt nước.

    Chữa viêm họng, viêm thanh quản: húng chanh 20g, kim ngân hoa 15 g, sài đất 15g, củ giẻ quạt 12g, cam thảo đất 12g sắc uống hàng ngày.

    Mật ong

    Mật ong có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, được sử dụng để ngăn chặn vi khuẩn tấn công các vết thương và điều trị các bệnh về răng, miệng, chảy máu chân răng và đau họng. Pha 2 thìa mật ong và 1/4 thìa nước chanh tươi vào cốc nước, mỗi ngày uống 3 – 4 cốc phòng bệnh ho và cảm lạnh. Nếu nghẹt mũi có thể dùng một thìa mật ong cho vào cốc nước sôi rồi hít khói bốc lên để thông mũi.

    Quả quất (tắc)

    Tính ôn, vị cay ngọt có tác dụng tiêu đờm. Để trị ho, lấy quả quất chín 10 g, hoa hồng bạch 10g, hạt chanh 10g, rửa sạch cho vào bát cùng với một ít mật ong hay đường phèn đem hấp cách thủy 20 phút, lấy ra nghiền nát chắt lấy nước để uống.

    Ngoài ra, có thể sắc lấy nước hoặc pha thành trà uống để chữa chứng ăn uống không ngon miệng, ho lâu ngày.

    Tía tô, ngải cứu

    Khi bị cảm, hãy ăn cháo nóng cùng tía tô, ngải cứu... bạn sẽ thấy cơ thể đỡ mệt mỏi, ra mồ hôi, giảm bệnh. Lá tía tô 15g, kinh giới, hương nhu, vỏ quýt, cúc tần mỗi thứ 10g, gừng tươi 3 lát. Đun sôi 15 phút và uống ngày 2 lần khi còn nóng.

    Bạc hà

    Trong tinh dầu bạc hà có chất menthol có khả năng làm dịu hoa, làm loãng niêm dịch, thường được dùng điều trị cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, viêm họng, ho kích thích tiêu hoá. Lấy 10g bạc hà, 20g cỏ chỉ thiên, 20g lá cối xay, 10g cam thảo đất, gừng tươi 3 lát đun sôi 15 phút. Uống khi còn ấm nóng để chữa cảm lạnh.

    Gừng

    Là vị thuốc quý có tác dụng điều giải cảm, làm ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng, viêm họng, chống cảm lạnh và chống nhiễm khuẩn trong các chứng ho, sổ mũi. Khi bị cảm lạnh có thể ngậm một lát gừng tươi, nhấm và nuốt nước cay liên tục, sau đó nhai và nuốt hết bã gừng. Bạn cũng có thể uống một cốc nước đường nóng cùng vài lát gừng nướng chín. Gừng còn là vị thuốc chữa đầy bụng, ăn uống không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng.

    Tỏi

    Đây là loại gia vị có tác dụng tốt để chữa ho, đầy bụng, khó tiêu. Lấy 30g tỏi ta bóc vỏ, giã nát, trộn với 5 g đường phèn hoặc đường kính. Hoà với 60 ml nước sôi còn ấm (40-50 độ), chia làm 2 lần uống trong ngày. Để chữa đầy bụng, khó tiêu, bạn ăn tỏi nướng chín trên than hoa. Bạn nên chọn loại tỏi tía, màu tím, nhánh nhỏ. Để khử mùi tỏi ta dùng nước chè đặc, bã chè hoặc nhai búp chè khô.

     

     

     

     

    Nấm hương - vị thuốc trường thọ

    Hạ huyết áp, giảm cholesterol, cải thiện viêm khớp, phòng ngừa suy lão... Đó chỉ là một phần công dụng của nấm hương.

     

    Trong Đông dược, nấm hương được coi là vị thuốc bổ nổi tiếng, được tôn là “dược diệu” chống suy lão và trường thọ.

    Nhiều nghiên cứu đã xác nhận nấm hương chứa một hàm lượng chất khoáng rất phong phú, nhất là kali. Ngoài ra, nó còn có các loại vitamin B2, D, PP, protein, chất xơ, lipid, và polisacarit giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

    Nấm hương có rất nhiều tác dụng, trong đó có 10 tác dụng lớn là: Hạ huyết áp, ngăn ngừa hình thành cục máu đông làm tắc mạch, giảm cholesterol, giảm béo, chữa viêm khớp, giảm albumin niệu, làm tăng interferon trong cơ thể, phòng ngừa suy lão, phòng trị ung thư, chữa tàn nhang.

    Một số món ăn bài thuốc:

    Viêm gan mạn hay giảm bạch cầu: Nấm hương tươi 100 g, thịt lợn nạc 100 g thái miếng, cho cùng nấm vào nồi nấu thành canh, tra đủ mắm muối vừa miệng, ăn cái uống nước. Cần ăn 1-2 lần/ngày, trong nhiều ngày.

    Tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ cứng động mạch, tiểu đường: Nấm hương 15 g rửa sạch, bí xanh 500 g thái miếng cùng cho vào nồi nấu thành canh, tra mắm muối, hành là được. Ăn cái, uống nước, ngày 1-2 lần trong nhiều ngày liền.

    Viêm dạ dày, thiếu máu, sởi: Nấm hương 100 g, rửa sạch thái nhỏ, gạo tẻ 100 g, thịt bò luộc thái lát 50 g. Tất cả cho vào nồi nấu nhừ thành cháo, nêm hành, gừng, muối, vừa đủ để ăn. Mỗi ngày ăn 1-2 bữa. Cần ăn một thời gian mới hiệu nghiệm.

     

     

     

     

    Các bài thuốc từ mía

    Mía có giá trị dược liệu cao nên người xưa coi nó là “thang thuốc hồi mạch của trời”. Theo y học phương Đông, mía vị ngọt, tính hàn. Vị ngọt giúp bồi bổ cơ thể, còn tính hàn thì giúp giải nhiệt.

     

    Trong mía, đường chiếm khoảng 20%, ngoài ra còn có một ít các acid hữu cơ như acid citric, acid malic, acid tartric… cùng nhiều chất vô cơ khác. Bởi vậy, mía có tác dụng bổ dưỡng, nhuận táo và thích hợp dùng cho người hạ đường máu, đau họng, ít nước bọt, ho, sốt cao, suy tim, người huyết áp thấp, táo bón, khó tiểu tiện, các chứng ho do hư nhiệt, khát… Theo Tuệ Tĩnh, uống nước mía pha nước gừng trị nôn khát rất hiệu nghiệm. Người ta còn dùng vỏ mía sắc cùng cam thảo lấy nước tắm cho người bị sởi. Lấy vỏ mía tím đốt thành tro, nghiền bột để trộn với dầu vừng (lượng vừa phải) rồi dùng hỗn hợp này bôi lên nơi sởi mọc, hay các vết loét, viêm tại khoang miệng…

    Một số phương thuốc chữa bệnh từ mía:

    Trị ho do nhiệt: Nước mía 1,5 lít, hạt cao lương xanh 4 thìa canh, nấu thành cháo. Mỗi ngày ăn, uống hai lần, có tác dụng nhuận tim phổi dùng trị ho do hư nhiệt, miệng khô, nhỏ dãi.

    Chữa nhiệt miệng, khó tiểu tiện: Mía róc bỏ vỏ, nhai nuốt nước, nếu đau miệng dùng ép lấy nước uống. Mỗi ngày dùng nước mía uống 1-3 lần còn trị được khát do nhiệt.

    Nôn ọe ở phụ nữ có thai, mồ hôi trộm: Dùng nửa cốc đến 1 cốc nước mía, thêm nước gừng độ 2 đến 5 giọt, hòa đều uống một lần. Ngày 2-3 lần sẽ hiệu quả.

    Làm tiêu đờm, trị ho nhiệt, khô miệng: Lấy 50 g nước mía hòa vào một lượng nước vừa đủ để nấu từ 60-100 g gạo tẻ thành cháo, sau đó dùng uống có lợi cho tim phổi và chữa được bệnh trên.

    Chữa viêm họng mãn tính: Dùng một lượng nước mía vừa đủ cho mã thầy đã thái nhỏ, một ít rễ cỏ tranh, thêm nước sắc lấy nước uống thay trà hàng ngày. Uống liên tục 10-15 ngày sẽ hiệu quả.

    Chữa băng huyết khi sinh: Lấy 45 cm ngọn mía, rửa sạch, thái nhỏ cùng cho vào 60 g táo đen, đổ thêm nước, đun nóng lấy nước uống thay trà trong ngày. Ngoài tác dụng chữa băng huyết khi sinh, còn trị được chứng khô miệng.

    Chữa đi ngoài phân khô: Dùng một cốc nước mía vỏ xanh hòa lẫn vào 1 cốc mật ong, ngày uống hai lần vào lúc sáng (bụng đói) và tối. Vài ngày sẽ hiệu nghiệm.

    Chữa tiểu dắt: Róc mía nhai nuốt nước hoặc ép lấy nước uống, ngày 3 lần mỗi lần uống 1-2 cốc nước mía (lưu ý không pha lẫn thứ gì hay bỏ nước đá vào).

    Chữa chứng nôn mửa liên tục: Khi thấy xuất hiện tình trạng sáng ăn chiều nôn hay chiều ăn sáng nôn, nhưng không phải là tắc ruột hay hẹp môn vị hoặc một số cấp cứu ngoại khoa khác thì hãy dùng phương này. Lấy 3,5 kg nước mía và một lít nước gừng tươi, hai vị này hòa lẫn nhau rồi chia 3 phần bằng nhau uống mỗi lần 1 phần.

    Trị đau nhiệt trong dạ dày: Mía 500 g, hạt cao lương 30 g, ép mía lấy nước cho vào hạt cao lương để nấu thành cháo ăn với cơm sẽ tác dụng.

    Nôn nghén do gan, dạ dày không điều hòa: Mỗi lần dùng 1 cốc nước mía hòa lẫn 1 thìa cà phê nước gừng hâm nóng sẽ có tác dụng.

    Lưu ý: Do mía có tính hàn nên những người đau bụng hay tỳ vị hư hàn không nên dùng. Không nên ăn mía nhai cả vỏ hoặc không rửa vì ở vỏ mía bám rất nhiều trứng giun và vi khuẩn. Trong một thí nghiệm, người ta lấy 2 đoạn mía dài chừng 100 cm ở hai cây mía khác nhau đem rửa cọ và lấy cặn lắng ở nước rửa mía này soi trên kính phát hiện thấy 1.400 trứng giun, trong đó chiếm 75% số trứng giun có khả năng gây nhiễm bệnh.

     

     

     

     

    Quả mận chữa viêm họng

    Quả mận là vị thuốc hay chữa ho, viêm họng rất hiệu quả. Ngoài ra, mận cũng giúp giải nhiệt, nhuận tràng, kích thích tiêu hóa và làm đẹp da.

     

    Trong y học cổ truyền, quả mận có tên là úc lý, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, sinh tân dịch, giảm ho, kích thích tiêu hóa, lợi tiểu, tiêu thũng. Ăn nhiều mận chua dễ sinh nóng ruột, cồn cào, hại răng; nhưng nhấm nháp ít mận trước mỗi bữa ăn sẽ thấy ngon miệng và dễ tiêu hóa.

    Dịch ép quả mận pha với nước đường hoặc trộn với nước quả nho là thứ giải khát có tác dụng mát, thanh nhiệt, giải nóng, nhuận tràng. Dùng dịch ép này bôi lên mặt hằng ngày làm mịn da.

    Để chữa ho, viêm họng, háo khát, có thể chế biến quả mận theo cách sau: Quả mận vừa chín tới rửa sạch, để ráo nước, ngâm với muối (cứ một lớp mận, lại một lớp muối), thêm ít nước đun sôi để nguội, rồi nén hơi nặng. Sau vài ngày đến một tuần, đảo đều.

    Có thể châm kim vào quả trước khi muối cho chóng ngấu. Lấy ra, phơi hoặc sấy nhẹ cho khô rồi ngâm mận muối vào nước ấm cho bớt mặn. Để ráo, ướp mận với nước đường với tỷ lệ 20 g đường cho 1 kg mận. Rim nhỏ lửa, đảo đều đến khi cạn nước đường. Để nguội, trộn với gừng khô giã nhỏ và bột cam thảo. Ngày ngậm nhiều lần.

    Nhân hạt mận (lấy từ quả chín phơi khô) có tác dụng giảm đau, lợi tiểu, chữa táo bón, phù thũng, vết thương bầm tím do ứ máu. Liều dùng hằng ngày: 12 g dưới dạng thuốc sắc, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Phụ nữ có thai không được dùng nhân hạt mận.

    Để dưỡng da, làm mịn bóng và bớt vết đen trên mặt, lấy nhân hạt mận sao khô, giã nhỏ, rây bột mịn, trộn với vài giọt nước chanh và lòng trắng trứng gà, đánh nhuyễn, đắp lên mặt trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau rửa sạch và lặp lại trong vài ngày tiếp theo.

    Hoa mận giã nát, trộn với sữa, bôi hằng ngày lên mặt cũng làm da dẻ mịn màng, bớt tàn nhang, vết nám đen.

     

     

     

     

    Hạt chanh - giảm ho, giải độc

    Hạt chanh, một dư phẩm thường bị loại bỏ khi sử dụng quả chanh, lại là vị thuốc được dùng khá phổ biến theo kinh nghiệm dân gian.

     

    - Khi trẻ bị ho, lấy hạt chanh, hạt quất, lá thạch xương bồ - mỗi vị 10g, mật gà đen một cái. Tất cả dùng tươi, giã nhỏ, thêm đường, hấp cơm cho chín rồi uống làm 2-3 lần trong ngày.

    - Hoặc hạt chanh 10g, lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, nước 20ml. Các dược liệu đem nghiền nát, hòa với nước rồi thêm mật o­ng hoặc đường kính, uống làm 3 lần trong ngày, dùng vài ngày.

    - Để giải độc chữa rắn cắn, lấy hạt chanh tươi hoặc phơi khô 10-20g nhai nhỏ, nuốt nước, lấy bã đắp vào vết cắn (đây là kinh nghiệm của nhân dân ở một số vùng miền núi nước ta và ở một vài địa phương của Ấn Độ).

    Về cơ chế tác dụng của hạt chanh đối với nọc rắn, theo kinh nghiệm dân gian, những vị thuốc có chất đắng thường có tác dụng giải độc tốt (chất đắng trong hạt chanh đã được xác định là lemonin hay pepolimonin).

    - Dùng riêng hoặc phối hợp hạt chanh 15g, mướp đắng 10 hạt, rễ thạch xương bồ 12g, củ gấu 20g, muối ăn vài hạt. Tất cả để tươi giã nhỏ, ngâm với 30ml nước sôi trong 10 phút, khuấy đều rồi chắt hoặc lọc. Người lớn uống làm hai lần cách nhau 20 phút; trẻ em dưới 15 tuổi uống 1/4 đến 1/3 liều người lớn.

    - Ngoài ra, hạt chanh vừa tách khỏi múi quả (10-20g) ngâm ngay vào một chén nước nóng trong vài giờ. Chất nước dính bao quanh hạt sẽ nở và tan ra thành một dung dịch đặc nhầy, thêm đường, uống một lần trong ngày, chữa táo bón.

     

     

     

     

    Đau lưng là một trong những triệu chứng của thận âm hư và thận dương hư

    Trị chứng thận âm hư và thận dương hư

    Theo quan niệm của y học cổ truyền, tình trạng rối loạn cương dương gồm có hai thể là, thận âm hư và thận dương hư. Một số bài thuốc kinh điển, kinh nghiệm sau đây theo lương y Phạm Như Tá (TP.HCM) giúp chữa trị hai thể nói trên.

     

    Thể thận âm hư


    Nhục thung dung

    + Thường triệu chứng biểu hiện gồm: bứt rứt, hồi hộp, khó ngủ, dễ quên, hay tiểu đêm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, nóng về đêm, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng, quan hệ tình dục không có "lực", mau mất sức, dương nuy bất cử (dương vật không cương), xuất tinh sớm...

    + Bài thuốc để trị tình trạng này là "Lục vị địa huỳnh hoàng", bao gồm các vị thuốc: ba kích, ích trí nhơn, phục linh, đơn bì, hà thủ ô, chích bắc kỳ (mỗi vị 12gr), 16gr thục địa, tục đoạn, nhân sâm, sơn thù, hoài sơn Bắc (mỗi vị 10gr), 8gr nhục thung dung, 8gr trạch tả (sao rượu) và 4gr ngũ vị.

    + Cách nấu: Lần 1, cho các vị thuốc trên vào nồi đất cùng 4 chén nước, sắc (nấu) còn lại 1 chén. Lần 2, cho vào 3 chén nước, nấu còn lại nửa chén. Hợp nước lần 1 và lần 2 lại, rồi chia làm 3 phần để dùng trưa, chiều, tối, dùng trước bữa ăn độ 1 giờ.

    Thể thận dương hư:

    + Bao gồm một số triệu chứng giống thận âm hư nói trên, nhưng kèm một số triệu chứng khác như: eo lưng và chân lạnh, hay bị rối loạn tiêu hóa, và thường đi tiêu vào lúc sáng sớm, lòng bàn tay, bàn chân lạnh...


    Bắc kỳ


    Tục đoạn

    + Bài thuốc trị chứng này bao gồm những vị thuốc sau: dâm dương hoắc, nhục thung dung, tục đoạn, sơn thù, hoài sơn Bắc, nhung nai (mỗi vị 10gr), ba kích, đỗ trọng, nhân sâm, chích bắc kỳ, kỷ tử, phục linh, đơn bì (mỗi vị 12gr), ích trí nhơn, trạch tả (mỗi vị 8gr), phụ tử, ngũ vị (mỗi loại 4gr) và 6gr nhục quế.

    + Cách chế biến cũng giống như bài thuốc ở thể thận âm hư, riêng nhục quế thì để riêng, đem hãm nước sôi, đợi nấu xong rồi mới cho vào sau.

     

     

     

     

    Giấm táo mật ong chữa nhiều loại bệnh

    Nếu bị nhức đầu kinh niên, mất ngủ, dùng giấm táo hằng ngày với liều lượng cần thiết. Lúc 20 giờ, uống một tách mật ong hòa với nước và mỗi bữa ăn dùng 2 thìa cà phê mật ong.

     

    Giấm táo và mật ong rừng là món ăn, vị thuốc có giá trị dinh dưỡng cao, phòng và chữa được nhiều bệnh. Giấm táo chứa nhiều muối khoáng của trái cây. Mật ong có nhiều loại axit, muối khoáng, có tác dụng diệt vi khuẩn cao như diệt vi khuẩn thương hàn trong 48 giờ; vi khuẩn phó thương hàn A và B trong 24 giờ... Ngoài ra, trong giấm táo, mật ong có nhiều kali (potassium), nó hút nước mạnh giúp làm giảm huyết áp, chữa khỏi chứng chảy nước mắt nước mũi ở người già, thấp khớp, thần kinh không ổn định, căng thẳng.

    Sau đây là một số bệnh đã được điều trị bằng giấm táo - mật ong:

    Suy nhược mạn tính: Dùng 3 thìa cà phê giấm táo và một tách mật ong, đổ tất cả vào chai cổ rộng, để ở đầu giường. Trước khi ngủ uống 2 thìa cà phê, nửa giờ sau sẽ ngủ được. Nếu chưa ngủ được, uống 2 thìa nữa. Cứ mỗi lần thức dậy, uống tiếp 2 thìa cà phê. Hiệu nghiệm hơn bất cứ loại thuốc ngủ nào.

    Tăng huyết áp: Trong bữa ăn, uống một cốc giấm táo hòa với mật ong và nước đun sôi để nguội.

    Viêm xoang chảy nước mũi, nước mắt: Người già hay chảy nước mắt, viêm xoang chảy nước mũi: dùng 2 thìa cà phê giấm táo với một giọt dung dịch iốt lugol trong một cốc nước, uống trong bữa ăn. Uống đều từ 1-3 tuần. Sau đó chỉ uống một tuần 2 lần để phòng tái phát. Potassium có tính hút nước như bọt biển, còn nước chanh làm chảy nước mũi. Vì vậy khi chảy nước mắt, nước mũi không được uống nước chanh.

    Bệnh zona: Dùng giấm táo nguyên chất bôi ngày 4 lần, ban đêm 3 lần. Hết đau nhanh và chóng thành sẹo.

    Phồng, giãn tĩnh mạch: Xát giấm táo vào nơi giãn, sáng và tối. Uống 2 thìa giấm táo với nước, ngày 2 lần.

    Chốc lở, nấm tóc: Bôi giấm táo ngày 6 lần, cách đều nhau ở nơi chốc lở, nơi có nấm. Giấm táo có tác dụng sát khuẩn mạnh.

    Đái dầm: Cho trẻ uống một thìa mật ong rừng trước khi đi ngủ có tác dụng an thần và giữ lại nước ở tế bào, giúp thận đỡ làm việc nhiều.

    Bệnh ho ở người lớn và trẻ em: 2 thìa giấm táo + 2 thìa mật ong + 2 thìa glycerin. Liều lượng nhiều ít tùy tình hình bệnh. Ho ban ngày thì uống ngày 2 lần vào sáng và chiều, mỗi lần 1-2 thìa cà phê. Ho ban đêm thì uống trước khi đi ngủ và một lần nữa vào lúc nửa đêm. Nếu ho nhiều, uống 6 lần một ngày, chia đều từ sáng đến tối.

    Bệnh chuột rút: Dùng 2 thìa cà phê mật ong trong mỗi bữa ăn. Sau một tuần thì khỏi.

    Đau họng, viêm amidan: Pha một thìa cà phê giấm táo vào một cốc nước ấm, súc miệng. Còn một ít thì ngậm nuốt từ từ. Mỗi giờ súc miệng và ngậm nuốt một lần. Bắt đầu đỡ thì 2 giờ làm một lần. Sau 24 giờ, bệnh sưng họng do vi khuẩn streptocoques sẽ khỏi. Nếu bị sưng amidan, sau 12 giờ cũng khỏi.

    Viêm thận, bàng quang, đái rắt, đái buốt, nước tiểu có mủ: Cho 2 thìa cà phê giấm táo trong cốc nước, uống trong mỗi bữa ăn, dùng đều dặn hằng ngày. Những bệnh khác như suy nhược cơ thể, đau đầu mạn tính, chóng mặt, huyết áp cao hoặc thấp; béo bệu, tim đập nhanh, rối loạn nhịp tim, tim ngoại tâm thu... đều dùng giấm táo rất tốt.

    Mật ong - thức ăn của vận động viên thể thao: Dùng mật ong vào bữa điểm tâm, cơ thể có ngay được một lượng dự trữ năng lượng từ sáng. Dùng 2 thìa canh mật ong trước thi đấu sẽ đạt thành tích cao hơn. Giữa các hiệp đấu bóng (bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền), vận động viên dùng mật ong vào giờ giải lao thì khi vào hiệp 2 họ thi đấu dễ dàng hơn vì chóng lại sức.

    Cách làm giấm táo: Một cân táo ngâm nước muối hơi mặn khoảng 15 phút để diệt khuẩn rồi vớt ra để ráo. Bổ nhỏ táo, để cả hột, cho 3 lít nước sôi để nguội còn âm ấm với 2 quả chuối tây, đựng trong lọ thủy tinh, bịt lọ bằng vải màn. Sau một tháng lọc lấy nước giấm táo dùng dần. Giấm có màng là tốt. Thấy có muỗi bay ra là giấm hỏng, phải làm lại.

     

     

     

     

    Nghệ có thể chữa vết thương bỏng

    Thuốc nam chữa bỏng

    Hiện nay, bỏng vẫn là một tai nạn thường gặp trong cuộc sống. Ngoài các phương pháp điều trị bằng y học hiện đại, y học cổ truyền cũng góp phần trong quá trình chữa trị bệnh.

     

    Các vị danh sư Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông đã đưa ra nhiều vị thuốc vài bài thuốc chữa bỏng. Trong dân gian cũng lưu truyền nhiều bài thuốc chữa bỏng rất tốt. Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc nam chữa bỏng để bạn đọc tham khảo.

    Theo y học cổ truyền, để chữa bỏng phải làm mát cái nóng đã nhập vào cơ thể và chống độc, giải độc, bồi bổ tâm dịch, bình ổn âm dương, bồi dưỡng cơ thể, khôi phục tinh thần.

    Tuệ Tĩnh có khuyên dùng nước tiểu trẻ em khỏe mạnh để uống khi bị bỏng.

    Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tại các vùng giải phóng, khu căn cứ và trên chiến trường, chúng ta đã sử dụng nhiều bài thuốc chữa vết thương bỏng có nguồn gốc tự nhiên theo kinh nghiệm dân gian.

    Những bài thuốc uống

    Trong giai đoạn nhiễm độc của bỏng, có thể dùng

    Bài 1: Hoàng liên giải độc thang: hoàng liên 12g, hoàng cầm 8g, chi tử 16g.

    Bài 2: Hộ tâm thang: Đăng tâm 4g, cam thảo 12g, đậu xanh 40g, trúc diệp 10 lá.

    Bài 3: Để chữa nhiễm khuẩn, có thể dùng bài thuốc: ké đầu ngựa 10g hoặc 20g, kim ngân hoa 10g, bồ công anh 10g, hạ khô thảo 10g, kinh giới 10g, cam thảo 10g.

    Thuốc bôi

    Các thuốc làm se khô và tạo màng che phủ vết thương bỏng

    Có nhiều loại thuốc đã được dùng, phổ biến nhất là tanin dung dịch 5%. Phương pháp dùng tanin để làm đông dịch vết thương, kết tủa protein, tạo thành một màng vảy được David Clegbern (1858) đề xuất.

    Một số cây thuốc nam có tác dụng làm se khô và tạo màng vảy là cao đặc lá sim, nước sắc đặc vỏ cây xoan trà.

    Thuốc bỏng chế từ vỏ cây xoan trà (ký hiệu B76) được dùng rắc phun trên các vết thương bỏng mới sau khi đã được xử lý vô khuẩn vết bỏng (rửa sạch, cắt bỏ vòm các nốt phồng, rửa vô khuẩn, thấm khô). Sau khi rắc phun, lớp thuốc sẽ kết hợp với các phần hoại tử đông của thành phần mô liên kết trung bì, gắn chặt và bám vào vết thương bỏng mới, tạo thành một màng thuốc che phủ cho vết bỏng. Đây là phương pháp hở không cần băng nên tiết kiệm được gạc, bông băng, không còn mùi hôi. Không dùng thuốc ở các vết bỏng cũ hoặc vết bỏng đã nhiễm khuẩn. Tránh bôi kín tạo màng thuốc cả chu vi một ngón, một chi, một bộ phận cơ thể vì sẽ gây chèn ép, bó chặt, cản trở lưu thông tuần hoàn.

    Thời gian khỏi của bỏng nông giảm ngắn được từ 2-5 ngày. Màng thuốc sẽ tự rụng hoặc được cắt bỏ khi bỏng nông đã khỏi.

    Thuốc bỏng chế từ các cây khác như kháo nhậm, kháo vàng, hy đan, săng lẻ, sú, nâu, sòi, sến được chế dưới dạng cao, cách sử dụng cũng như cao lá sim và cao vỏ cây xoan trà.

    Nhóm thuốc làm rụng nhanh các hoại tử ở vết bỏng

    Mã đề: Có tác dụng loại trừ tổ chức hoại tử, ức chế sự phát triển của staphylo-coccus aureus, ít tác dụng với pseudomon as aeruginosa, kích thích tái tạo tổ chức.

    Cách dùng: Cao mã đề bôi hoặc nước ép để rửa, giã lá đắp trên vết thương, thuốc mỡ mã đề dạng bôi.

    Nghệ: Đối với vết thương, vết bỏng dùng nước ép nghệ, kem nghệ 5% bôi trên vết thương, vết bỏng.

    Tác dụng làm rụng mô hoại tử, kháng khuẩn. Kem nghệ ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của staphylo-coccus aureus và nấm candida albican, kích thích tái tạo mô. Người ta còn dùng nước ép nghệ để rửa bàng quang, chỗ bị viêm, rửa các loét điểm tỳ.

    Dung dịch mủ đu đủ 2-10%, dùng băng gạc thấm ướt liên tục trên vết bỏng hoặc nhỏ giọt liên tục trên vết hoại tử bỏng, có tác dụng làm rụng hoại tử do tác dụng của men papain.

     

     

     

     

    Diếp cá chữa viêm phổi

    Để chữa viêm phổi, viêm ruột, viêm thận phù thũng, lỵ, lấy rau diếp cá 50 g, sắc lấy nước, ngày uống 2-3 lần, cần dùng 3-5 ngày.

     

    Còn để chữa viêm phổi do sởi, dùng rau diếp cá, rau dền đỏ, lá đậu săng, cam thảo đất mỗi thứ 50 g, sắc 3 bát nước còn lại 1 bát, chia làm 3 phần, uống trong ngày.

    Ngoài ra, diếp cá còn được dùng chữa các bệnh sau:

    Trĩ: Rau diếp cá 6-12 g. Sắc lấy nước xông và rửa vùng bị trĩ. Kết hợp ăn sống lá diếp cá vào các bữa ăn càng hiệu nghiệm.

    Sởi, mụn nhọt, giải nhiệt, thông tiểu tiện, điều hòa kinh nguyệt: Rau diếp cá 6-12 g, vò nát, thêm nước sắc uống hàng ngày 1 thang. Uống trong vài ngày.

    Cầm máu trĩ: Rau diếp cá 2 kg, bạch cập 1 kg, tất cả sấy khô tán bột, ngày uống 6-12 g, chia 3 lần.

    Sưng tắc tia sữa: Rau diếp cá 20 g, táo đỏ 10 g, sắc với 600 ml nước còn lại 200 ml, chia 3 phần uống hết trong ngày.

    Viêm tuyến sữa: Rau diếp cá 30 g, rau cải trời 30 g, giã nát thêm chút nước, vắt lấy nước cốt uống, còn bã chưng nóng với giấm rịt vào chỗ vú sưng đau. Ngày 1-2 lần.

    Tiểu buốt, tiểu dắt: Rau diếp cá 50 g, rau má tươi 50 g, rau mã đề tươi 50 g vò nát trong nước, sau gạn lấy nước trong uống, ngày 1-2 lần sẽ khỏi.

    Kinh nguyệt không đều: Rau diếp cá tươi 30-40 g, sắc lấy nước uống thường xuyên sẽ khỏi.

    Sốt xuất huyết: Lấy rau diếp cá, lá rau ngót, lá cỏ mực, mỗi thứ 100 g, sắc lấy nước đặc uống trong ngày.

     

     

     

     

    Cây và trái nhàu.

    Món ăn chữa đau mỏi lưng

    Từ lâu, trái nhàu được dân gian sử dụng trị đau mỏi lưng rất thông dụng do hiệu quả cao. Dùng trái nhàu chín chấm muối ăn mỗi ngày, hoặc ép lấy nước uống.

     

    Đau mỏi vùng lưng, eo thắt lưng là tình trạng rất thường gặp. Một số món ăn bài thuốc sau, theo lương y Huỳnh Văn Quang và lương y Phan Cao Bình, có khả năng cải thiện bệnh:

    Rượu ngâm dâu tằm: Trái dâu tằm ngâm rượu có công dụng chữa chứng đau mỏi lưng rất hay. Chọn rượu trắng loại ngon, ngâm dâu cùng vị thuốc ngũ gia bì và đỗ trọng. Mỗi ngày uống một chén nhỏ, hâm cho rượu âm ấm thì hiệu quả giảm đau cao hơn.

    Cây cỏ xước: Dùng 50 g nấu với 2 chén nước để uống trong ngày.

    Đậu đen: Lấy 50 g đậu đen nấu với 30 g đỗ trọng và 200-300 g xương sống heo (hoặc đuôi heo) để dùng.

    Để tránh đau mỏi lưng, bạn cần năng tập thể dục, tránh ngồi quá lâu, ngồi sai tư thế...


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thành Tình @ 23:07 09/01/2012
    Số lượt xem: 616
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    LỜI HAY Ý ĐẸP

    ĐẠI CA CỦA TÔI